Bà Lão Bên Khung Cửa Sổ

Bà thức dậy từ lúc nào bà cũng không nhớ, chắc còn sớm lắm khoảng 4, 5 giờ sáng. Bà đưa mắt nhìn chung quanh phòng, dưới ánh sáng lờ mờ của đèn ngủ, căn phòng vẫn không có gì thây đổi, vẫn cái bàn hai cái ghế xếp quen thuộc, cái tủ nhỏ dùng để quần áo, một cái kệ để TV… Giường bà nằm ngây giữa căn phòng, đầu quay vào sát vách tường, mặt hướng ra cửa sổ, bà nằm bất động trên giường, cánh tay trái bị liệt duỗi thẳng, tay kia vắt ngang bụng; bà lại thiếp dần đi, rồi lại tỉnh giấc, chập chờn cho đến lúc trời sáng. Lúc khuya trời mưa, bà nhìn thấy những giọt nước vẫn còn đọng trên tấm kính cửa sổ.

Có ai đó lắc nhè nhè tay bà, không cần nhìn bà cũng đoán ra được đó là cô y tá của Nhà Già, cô ta vào đây buổi sáng để làm công việc thường nhật của mình. “không biết con trắng hay đen đây?!” bà nghĩ. Không phải bà kỳ thị, nhưng không hiểu sao mỗi khi gặp y tá da đen thì bà không vui chút nào, thậm chi còn tỏ thái độ khó chịu. Mấy đứa con bà thường hay chọc “bà già cũng kỳ thị quá hen, người ta không kỳ thị mình dân châu á thì thôi, má còn…”. Bà hé đôi mắt nhìn – môt cô gái tóc vàng, da trắng nhẻn miệng cười đang lây hoay làm vệ sinh thây đồ cho bà. Cô ta vừa làm vừa nói, nói gì đó… ai mà hiểu được cô ta nói gì – phải chi ông nhà còn sống, ổng dịch cho bà nghe thử xem nó nói gì mà sáng nào tụi nó vào cũng nói líu lo. Chắc là công việc của nó đòi hỏi nói phải nói vậy, hay là nó vừa làm vừa nói cho đở chán?! Cũng có thể, vì nó biết bà đâu có hiểu được tiếng tụi nó nói. Nghe riếc rồi cũng quen, mỗi buối sáng thức dậy nghe tụi nó nói, âm điệu trầm bỏng du dương, bà nghe như bản nhạc chào mừng một ngày mới đến với bà.

Cuối cùng công việc buổi sáng cũng xong. Cô ý tá bước ra mở cửa và quay lại nhìn bà nói, lần này thì không cần thông dịch bà cũng hiểu là nó chúc bà một ngày tốt lành và nói bà ra phòng ăn để ăn sáng. Bà chuẩn bị ra ngoài ăn sáng, xem lại cái túi đựng tiền có trong túi áo dấu trong người không, cái khăn nhỏ dùng để lau miệng, cái mắt kiếng lão… đâu đó đã sẳn sàng. À! Còn cái đồng hồ đeo tay, cái đồng hồ nhỏ mạ vàng, thường ngày bà để trong ngăn kéo. Kéo cái ngăn kéo ra, bà cầm chiếc đồng hồ mân mê như một bảo vật. Cái đồng hồ cũ đã bị tróc lớp xi vàng, loan lổ lộ ra phần trắng kim loại bên trong. Đây là vật kỷ niệm của ông nhà cho bà, lúc bà mới đặt chân đến Canada, nó chẳng có đáng giá là bao nhiêu, nhưng đây là nóm quà của ông nhà mà bà còn giữ được, nó đã theo bà suốt bao nhiêu năm qua từ khi bà có nó, nhiệm vụ duy nhất của nó là dùng coi giờ để uống thuốc. Bà xỏ tay vào sợi dây đeo, xoay xoay mặt đồng hồ đúng vị trí giữa cườm tay, bà vẫn nhìn xem mấy giờ mặc dù chiếc đồng hồ đã hết pin từ lúc nào!?

Đến lúc này, coi như bà đã chuẩn bị xong đâu vào đó. Đẩy hai cần thắng giữ chiếc xe, bà dùng cánh tay phải còn cử động được lăn ngược vòng bánh xe, chiếc xe lăn từ từ lùi ngược ra phía sau, rồi quay xe nữa vòng hướng về phía cửa, bà đẩy bánh xe chầm chậm ra ngoài. Đi dọc theo hành lang về phía phòng ăn, bà nghĩ không biết hôm nay tụi nó cho bà ăn gì đây?! Chắc cũng giống như mọi hôm, một lắt bánh mì, một ít phô mai, một chén serio, ly sữa… thực đơn ngày nào cũng vậy, bà gần như thuộc lòng không cần nhìn cũng đoán ra được. Ngán gần chết! Nhưng bà đâu còn sự chọn lựa nào khác, ở xứ của người ta mà, vả lại trong người bà đang bệnh nên cũng không ăn được gì ngoài những thứ bác sĩ cho phép. Bà nghĩ, cũng không sao! bà ăn để sống quen rồi. Từ xưa đến giờ, miếng ăn cái mặc, bà luôn để phần ngon cho đám con nheo nhóc của bà. Bà ăn sau cùng, ăn phần dư còn lại của đám con, ngon cũng được, dở cũng xong. Giờ thì nuốt những phần ăn buối sáng này cho qua ngày, qua tháng và để uống thuốc. Mọi người có mặt đông đủ trong phòng, gian phòng không rộng lắm, để rải rác chung quanh cửa sổ 5, 6 cái bàn lớn, và 4, 5 cái bàn nhỏ loại hai người ngồi. Thường thì bà thích ngồi một mình, cùng lắm thì thêm một người nữa thôi, bà không thích ngồi tụm nhum ba bốn người, nói cười ồn ào vì có nghe bà cũng không hiểu tụi nó nói gì. Bà chọn một cái bàn nằm gần của sổ nhìn ra công viên, một bà Tây đã ngồi sẳn đó. Vừa gặp bà, bà tây nói một hai câu gì đó, bà đoán là chào hỏi buổi sáng. Tuy không hiểu nhưng bà vẫn trả lời lại “bà khỏe không? Hôm nay cuối tuần rồi, có đứa nào vào thăm bà không?” Lạ thiệt! Bà tây trả lời một tràng tiếng pháp, dường như bà ta hiểu được bà nói. Hai ngôn ngữ khác biệt sao họ lại nói chuyện với nhau được, lạ thiệt!? Có lẻ họ hiểu nhau qua tâm trạng, họ cảm thông nhau sự cô đơn, họ hiểu nhau qua sự buồn tẻ cô quạnh, nên khi nói ra, họ biết được người kia muốn gì.

Uống hai viên thuốc, hớp vài nguộm nước, bà đẩy hai cần thắng bánh xe, vừa lùi xe ra, vừa chào bà tây ngồi đối mặt, bà đẩy xe trở về phòng. Bà không muốn đi ra ngoài sân hay vào phòng khách của nhà già như những người kia. Thường thì sau khi ăn sáng xong, một nhóm người kéo ra sân ngồi phơi nắng, một nhóm người khác thì vào phòng khách nói chuyện, đọc báo, xem TV… riêng bà thì không; bà trở về phòng, nơi đó hiện đang có hai người bạn của bà chờ đợi. Bà cũng có bạn sao? Đúng vậy, bà có hai người bạn trung thành với bà, luôn bên cạnh bà an ủi, chia sẽ mỗi khi bà buồn, giúp cho bà vui khi bà cô đơn, gắn bó với bà mỗi khi bà trở bệnh. Hai người bạn đó là cái TV và khung cửa sổ.

Đẩy cửa phòng đi vào trong, bà nghĩ giờ này còn sớm, chắc bạn TV chiếu tin tức, toàn là nói chuyện, thôi lại bên bạn cửa sổ ngồi vậy. Lăn chiếc xe đến bên cửa sổ, theo thói quen bà ép xát xe vào trong góc vách tường, mặt hướng nhìn ra cửa sổ. Phòng bà nằm trên tầng 8 của tòa nhà, nhìn ra công viên với một thãm cỏ xanh mướt. Dọc theo lối đi là hai hàng bông hồng trơ cành, trụi lá, xa xa là những cây cổ thụ với tàn cây rộng như những cánh tay vươn ra ôm trọn lấy công viên. Xa hơn nữa là dòng sông nước chảy êm ả, trên mặt nước ánh mặt trời đang nhảy múa lấp lánh, chào mừng buổi sáng. Bà đưa mắt nhìn quanh, bây giờ là cuối mùa thu, lá vàng trên cành rụng gần hết, còn trơ lại những cành cây khẳng khiu, nhìn chúng như không còn nhựa sống, đang ngắt ngoải chờ mùa đông đến. Rồi bà chợt nghĩ đến mùa đông ở đây. Trời! Cái xứ gì mà mùa đông ác nghiệt quá, lạnh cắt da, cắt thịt, mọi vật chìm trong tuyết, thành phố như bỏ hoang không một bóng người, nhìn quanh toàn những ụ tuyết trắng xóa. Ngày xưa lúc còn ở VN, nhìn trên TV thấy tuyết rơi lã tã trên cành cây, trên mái nhà, sao mà nên thơ, lãng mạn quá! Giờ thì đối mặt với nó lại muốn tránh xa, bỏ trốn.

Gương mặt bà thẩn thở đờ đẩn, bà ngồi bất động trên chiếc xe lăn. Đôi mắt bà lim diêm, mí mắt bụp, phần trên che xuống mắt, nếu nhìn thoáng qua tưởng là bà đang ngủ. Sóng mũi cao, hai cánh mũi mỏng, hơi hỉnh, cân xứng với khuôn mặt trái soan của bà. Bà có cái miệng khá đặt biệt, bình thường môi của bà lúc nào cũng trề trề ra, như đang khinh khỉnh ai, nếu không biết người ta tưởng là bà đang trề môi khi dễ. Mặt đầy tàn nhang, chiến tích của thời gian phủ đầy trên gương mặt nhăn nheo, chằng chịt nếp nhăng. Thỉnh thoảng bà lấy khăn lau khóe mặt, bà khóc? không! Bà lau những giọt nước mắt sóng tự động chảy ra.

Bà ngồi lặng yên nhìn ra cửa sổ, mặt gần như bất động, mắt nhìn xa săm, không vui, không buồn, không cảm giác… đố ai biết được bà đang nghĩ gì!? Hay là bà đang nghĩ về cuộc đời bà, một cuộc đời đầy truân chuyên, vất vả, cơ cực, một cuộc đời với nhiều nỗi buồn hơn niềm vui. Người ta nói “giầy dép, áo quần còn có số, huống chi con người”. Vậy không biết con số may mắn đó là số mấy, từ số 0 cho đến số 9, con số nào là số may mắn, con số nào là xui xẻo? Bà nghĩ số mạng của bà chắc là con số 0. Bà nhớ lại cái thời tay bồng tay bế, dìu dắt 5 đứa con, đứa lớn nhất chưa được mười tuổi, đứa nhỏ nhất còn ẩm trên tay, bỏ cái xứ nắng vàng, biển bạc, cát trắng… Nha Trang của bà theo ông nhà vào saigon lập nghiệp, bỏ lại sau lưng những nỗi sợ hãi, những căng thẳng khi phải đối đầu với chiến tranh. Gia tài chỉ vỏn vẹn vài chục bạc, mấy thùng đồ cũ, bà đáp xe lửa với niềm hy vọng sẽ có một cuộc sống sung túc cho gia đình, khởi đầu một trang mới trong cuộc đời bà.

Cả cuộc đời cơ cực, buôn bán tảo tần, dãi nắng dầm mưa, thức khuya dậy sớm, chăm lo cho con cái, có lẽ bà không có khoảng thời gian nào giành riêng cho bà. Niềm hạnh phúc của bà giãn dị, đơn sơ, không cao sang, không danh vọng… Tiếng bập bẹ má, má đầu tiên của đứa con là niềm hạnh phúc, một đứa nào đó vừa qua cơn bệnh là niềm vui, nhìn những cặp mắt háu ăn đang chực chờ bà kéo từng cây kẹo kéo do chính tay bà làm, trong những đêm mưa rỉ rả trên mái nhà, đó là niềm sung sướng của bà.

Thân cò lặn lội bờ sông,

gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non…”

Reng…reng…reng… Tiếng điện thoại vang lên, cắt đứt luồn suy nghĩ của bà, giật mình trở về lại thực tại. Bà lăn xe về phía cái tủ nhỏ cạnh giường nằm, nơi để điện thoại, nhấc ống nghe, bà:

Alô!

Tiếng bên kia đầu dây điện thoại:

Alô! Má hả má?

Ờ…! Đứa nào đó bây…?

Con… nè! Má khỏe không?

Khỏe!

Má đang làm gì đó, má ăn gì chưa?

Có làm gì đâu… đang ngồi trên xe, ăn rồi, mới ăn xong

Thỉnh thoảng các con của bà ở các nơi gọi điện thăm hỏi bà; nói qua, nói lại vài câu, bà gát điện thoại xuống quay lại bên cửa sổ, tiếp tục đưa mắt nhìn mông lung. Trời đã đứng bóng, ánh nắng vàng vọt, yếu ớt buổi trưa chiếu thẳng xuống những chiếc lá vàng còn sót lại trên cành. Cơn gió cuối thu thổi nhẹ làm lây động những chiếc lá, vốn đã héo vàng, giờ đong đưa, chơi vơi như muốn thoát mình ra khỏi cành cây, rơi xuống đất, kết thúc một thân phận. Bà thấy cuộc đời sao ngắn ngủi quá, sanh ra, lớn lên, bệnh hoạn, già cả, rồi nhắm mắt. Chợt bà nghĩ, không biết sau khi mình chết đi sẽ như thế nào? Mấy đứa con của bà tụi nó sẽ ra sao? Tụi nó vẫn sống như vậy, không có gì thây đổi. Chúng nó đã lớn hết rồi, cháu nội, cháu ngoại đầy đàng, mình mà có chết đi còn đở bận tâm cho tụi nó. Mà cũng không phải như vậy, bà biết đám con của bà rất hiếu thảo với cha mẹ, cho dù nghèo sang như thế nào, tụi nó vẫn thương yêu, lo lắng cho bà hết mình; bà mà có chết đi, chắc tụi nó đau lòng lắm.

Suốt cuộc đời của bà không giàu có gì, nhưng bà giàu một cái mà ít gia đình đông con có được, đó là sự thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của đám con của bà, có lẻ bà và ông nhà là chất keo, kết chặt đống cát rả rời đó. Vậy đến lúc bà mất đi, liệu đống cát đó có còn kết chặt hay không, hay là sẽ rả rời tan nát?. Đôi khi bọn chúng có những sung khắc với nhau, nhưng chung qui lại, tụi nó vẫn kết chặt thành một khối, khó có ai có thể phá vở khối đoàn kết này. “Chị ngã, em nâng”, bà nghĩ nhưng sao đám con trai của bà hay ‘ngã” quá vậy?! Bà không thấy đám con gái của bà “ngã”, mà chỉ toàn thấy đám con trai của bà “ngã” để cho đám con gái “nâng”, lạ thiệt!? Rồi bà nghĩ, chắc có lẻ đám con gái của bà sống thực tế, lo cho chồng, nuôi dạy con, với thiên chức làm mẹ, tụi nó sống vững vàng trên đôi chân của mình để chống lại những phong ba bảo táp trong cuộc sống, bảo vệ gia đình, bảo vệ các con… tụi nó sống thực tế nên khó có “ngã” được, trong người tụi nó có phân nữa dòng máu của mình mà! Vậy còn đám con trai của bà thì sao? Nghĩ đến đây bà mỉn cười, cái môi vốn đã trề, giờ còn trề hơn lúc trước… bà thấy hơi bị nhức đầu, chắc có lẻ suy nghĩ nhiều quá! Không thèm suy nghĩ nữa, bà đưa mắt nhìn xuống công viên nhìn những chiếc xe, bà có thói quen đếm xem có bao nhiêu chiếc xe chạy ra, chạy vào Nhà Già. Hôm nay cuối tuần, xe ra vào nhiều hơn mọi hôm, đứa con gái của bà ở đây chưa vào giờ này, chắc xế, xế chiều nó mới vào.

Chợt có một con chim sẻ từ đâu bay đến bên khung của sổ. Nó đậu lại hai chân nhún nhảy, cái đuôi dài lắc qua, lắc lại theo nhịp điệu của cặp chân. Nó bị lạc bày? Nghiên nghiên cái đầu, nghểnh mắt nhìn bà, nó dộm bay đi. Nhưng không, nó tiếp tục nhún nhảy ra điệu thoải mái, nó biết là bà lảo này không làm gì được nó, vì có tấm kính ngăn cách. Bà nhìn con chim chợt nghĩ, sao tạo quá sanh ra loài vật lại giống nhau y chan như vậy? Con chim sẽ này con nào cũng giống con nào, làm sao tụi nó phân biệt được với nhau? Con cọp, con trâu, con bò… cũng vậy, chắc phải có cái gì đó để nhận dạng nhau. Không biết tụi nó có suy nghĩ không? Yêu thương thì chắc chắn có rồi, còn hận thù, ít kỹ, tham lam tụi nó có hay không? Vừa suy nghĩ, bà quay xe lăn về phía giường, bà mệt muốn nằm nghĩ trưa. Lần theo mép giường, bà gượng người đứng lên xoay người ngồi xuống giường, lấy xe lăn chận xát giường, bà ngã người nằm xuống. Lấy chiếc mền mỏng phủ ngang người, bà nghĩ ông trời sinh ra con người, vạn vật, vũ trụ, sức mạnh thần thông như thế nhưng chưa hoàn chỉnh lắm, loài vật hình dáng thì giống nhau, còn con người thì không ai giống ai, cho dù sinh đôi cũng có cái khác nhau. Phải chi ổng sinh ra con người giống nhau từ hình dáng cho đến tính tình thì thế giới này đâu có chuyện gì xảy ra, không có chiến tranh, không có hận thù, không có sự dối trá, lừa lọc… ổng mà rán một chút cho hoàn chỉnh thì hay biết mấy!

Bà không theo một đạo giáo nào, nhưng bà biết rỏ đạo làm người là khó nhất. Bà nhớ đọc hay nghe đâu đó câu:

Đối Sân

Thuận Nghiệp

Bích Quán

Tâm Như

Theo bà nhìn bất cứ chuyện gì trên thế gian này, phải nhìn bằng trái tim, nhìn từ tấm lòng nhân ái, vị tha, thì sẽ được bình an trong tâm hồn.

Văng vẳng bên tai bà:

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đường trần mưa bay gió cuốn…

Bà từ từ chìm vào giấc ngũ với nụ cười trên môi

Kinh Kha

(mai mốt mơ tiếp)

Blog Post Title

Blog Post Title

Leave a comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *